Thiếu men Pyruvate Kinase: Bệnh di truyền hiếm gặp có thể gây thiếu máu kéo dài

30/04/2026

Thiếu hụt Pyruvate kinase là rối loạn di truyền hiếm gặp có thể gây thiếu máu tan máu mạn tính, vàng da, gan lách to và nhiều biến chứng nguy hiểm từ giai đoạn bào thai, sơ sinh đến tuổi trưởng thành. Việc hiểu đúng nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết và vai trò của xét nghiệm gen giúp các gia đình chủ động sàng lọc, tư vấn di truyền trước hôn nhân, trước mang thai hoặc trong quá trình hỗ trợ sinh sản.

1. Thiếu hụt Pyruvate kinase (PKD) là gì?

Thiếu hụt pyruvate kinase (PKD) là một rối loạn di truyền hiếm gặp, đặc trưng bởi sự phá hủy sớm các tế bào hồng cầu, gây ra tình trạng thiếu máu tan máu mạn tính. Thiếu men pyruvate kinase (PKD) là bệnh di truyền gen lặn, nằm trên nhiễm sắc thể thường, do đột biến gen PKLR, dẫn đến thiếu hụt enzyme pyruvate kinase – một enzym đóng vai trò quan trọng trong quá trình đường phân của tế bào hồng cầu. Biểu hiện của bệnh tương đối thay đổi, có thể thiếu máu rất nặng, khởi phát ngay trong giai đoạn mang thai gây phù thai đến triệu chứng rất nhẹ, gần như không có biểu hiện lâm sàng.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Đột biến gen PKLR được xem là nguyên nhân gây ra bệnh PKD. Gen này mã hóa Pyruvate kinase, một enzyme đóng vai trò quan trọng trong quá trình đường phân của tế bào hồng cầu, giúp cung cấp năng lượng cho tế bào hoạt động và ổn định cấu trúc. Đột biến gen PKLR dẫn tới thiếu hụt hoạt động chức nặng enzyme Pyruvate kinase, hậu quả là tế bào hồng cầu trở nên dễ vỡ, gây thiếu máu do tan máu.
Bệnh di truyền gen lặn, trên nhiễm sắc thể thường, với tỷ lệ mắc ở nam và nữ là ngang nhau. Bình thường mỗi người có 2 bản sao của gen PKLR, trong đó 1 gen có nguồn gốc từ bố, và 1 gen có nguồn gốc từ mẹ. Bệnh chỉ biểu hiện triệu chứng khi cá thể mang cả hai bản sao đột biến; nếu một trong 2 bản sao của gen bị đột biến, được gọi là người lành mang gen, không có biểu hiện bệnh.

Thieu Men Pyruvate Kinase 01

Trường hợp thể nặng của Thiếu hụt pyruvate kinase có thể tử vong ngay sau sinh

Như vậy, nếu bố mẹ là người mang gen, bố mẹ sẽ không có biểu hiện bệnh, tuy nhiên khi sinh con, con có:
25% khả năng thừa hưởng hai gen bình thường từ bố mẹ, trong trường hợp này em bé khỏe mạnh, không có nguy cơ trở thành người bệnh/người mang gen.
50% khả năng con sẽ thừa hưởng một gen bình thường và một gen đột biến, trường hợp này em bé sẽ trở thành người mang gen, không có biểu hiện bệnh.
25% khả năng con sẽ thừa hưởng hai gen đột biến, những em bé này tương lai sẽ trở thành người bệnh, có biểu hiện lâm sàng.
(Thêm hình minh họa )

3. Triệu chứng lâm sàng

Biểu hiện bệnh thiếu hụt pyruvate kinase có thể rất đa dạng. Với những trường hợp nặng, bệnh có thể biểu hiện ngay trong thời kỳ bào thai hoặc ngay sau sinh, đe dọa tính mạng trẻ. Ngược lại, những trường hợp nhẹ, triệu chứng có thể không rõ ràng hoặc thậm chí không có biểu hiện bệnh lý gì.

3.1. Phù thai:

Với những trường hợp nặng, bệnh có thể biểu hiện ngay trong quá trình mang thai với biểu hiện thiếu máu bào thai gây phù thai: tim to, tràn dịch màng tim, tràn dịch ổ bụng, tràn dịch màng phổi, bánh rau dày.

3.2. Thiếu máu sơ sinh:

Một số trẻ sơ sinh có thể có các triệu chứng nghiêm trọng ngay khi sinh, gây vàng da nặng, có thể dẫn tới vàng da nhân não, nguy cơ tử vong và biến chứng bại não; gan lách to; tăng áp động mạch phổi.

3.3. Thiếu máu ở trẻ lớn và người trưởng thành

Triệu chứng thường gặp nhất là thiếu máu gây mệt mỏi hoa mắt chóng mặt, da xanh, nhợt nhạt; vàng da, củng mạc vàng; gan lách to; sỏi mật do tăng Bilirubin; ngoài ra có thể gặp tăng áp động mạch phổi; xơ gan; và giảm mật độ xương.
Các đợt tan máu cấp có thể xuất hiện khi có các yếu tố stress hoặc tác nhân kích hoạt quá trình tan máu, như nhiễm trùng, hoặc mang thai, làm biểu hiện của bệnh nhân nặng lên. Ví dụ, nhiễm virus parvovirus B19 có thể làm dẫn tới cơn suy tủy cấp, thiếu máu nặng lên, bệnh nhân phải truyền máu..

4. Chẩn đoán thiếu men Pyruvate kinase 

Thiếu men pyruvate kinase được chẩn đoán dựa trên các triệu chứng lâm sàng đặc trưng, tiền sử gia đình chi tiết, thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng, kết hợp với xét nghiệm cơ bản đánh giá thiếu máu tan máu, gồm: tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, Bilirubin máu, LDH máu, test Coomb và chuyên sâu.
Đo hoạt độ enzyme Pyruvate kinase: giảm hoạt độ enzyme Pyruvate kinase là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán bệnh lý PKD. Tuy nhiên, xét nghiệm này thường chỉ có ở các trung tâm xét nghiệm chuyên biệt, không được tiến hành thường quy ở tất cả các cơ sở y tế.
Xét nghiệm gen PKLR: Xét nghiệm di truyền phân tử phát hiện đột biến gen PKLR là tiêu chuẩn quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý PKD, giúp khẳng định chẩn đoán bệnh và phân biệt với các bệnh lý thiếu máu tan máu khác.

5. Điều trị

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị triệt để với bệnh thiếu men Pyruvate kinase, các can thiệp chủ yếu là điều trị triệu chứng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh, gồm:

  • Điều trị chiếu đèn hoặc thay máu ở trẻ sơ sinh có bilirubin máu tăng cao tránh nguy cơ vàng da nhân não
  • Truyền máu với những trường hợp thiếu máu nặng
  • Bổ sung axit folic
  • Điều trị thải sắt đối với bệnh nhân truyền máu liên tục và kéo dài
  • Phẫu thuật cắt lách
  • Ghép tế bào gốc tạo máu

6. Phòng bệnh

Với những trường hợp có tiền sử gia đình có người thân mắc Pyruvate kinase, cần được tư vấn di truyền, xét nghiệm đánh giá tình trạng mang gen và nguy cơ khi sinh con để tránh sinh con mắc bệnh. Ngoài ra, xét nghiệm sàng lọc bệnh di truyền đơn gen tiền hôn nhân, tiền mang thai và trong quá trình mang thai cho tất cả các cặp vợ chồng là phương pháp hiệu quả để phát hiện sớm tình trạng mang gen của bố mẹ, đánh giá nguy cơ bị bệnh ở con, qua đó can thiệp kịp thời để tránh sinh con bị bệnh.

 


Chia sẻ: 

BÀI VIẾT LIÊN QUAN